Top 7 # Uống Thuốc Kháng Sinh Gây Buồn Ngủ Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 3/2023 # Top Trend | Visuantoancuaban.com

Tại Sao Uống Thuốc Cảm Cúm Gây Buồn Ngủ?

1. Thành phần thuốc cảm cúm gây buồn ngủ?

Chưa hết, bạn Th. (sinh viên đại học Dược Hà Nội) còn phân tích thêm là clorpheniramin cũng như các kháng histamin khác có thể có tác dụng phụ gây hại cho một số trường hợp. Không dùng trong trường hợp mẫn cảm với thuốc tránh gây ra các hậu quả đáng tiếc hay khó kiểm soát. Người bệnh đang cơn hen cấp hay có triệu chứng phì đại tuyến tiền liệt không được sử dụng thuốc này.

Khi uống thuốc cảm cúm sẽ gây ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt của người bệnh

2. Thuốc cảm cúm có tác dụng an thần gây thuốc ngủ?

Trong thực tế, clorpheniramin có rất nhiều trong các loại thuốc trị cảm cúm với nhiều cái tên biệt dược khác nhau. Tác dụng phụ của thuốc cảm cúm gây buồn ngủ đã khiến cho nhiều người không để ý và có thể gây ra những sự cố đáng tiếc trong sinh hoạt, lao động nếu người dùng không thực sự được nghỉ ngơi, hơn thế người sử dụng thuốc cảm cúm sẽ không thể tỉnh táo trong công việc làm ảnh hưởng lớn đến họ.

Trên thị trường hiện có viên clorpheniramin với nhiều loại hàm lượng để sử dụng cho các đối tượng khác nhau. Hàm lượng khác nhau vì thế mà tác dụng an thần cũng thay đổi từ ngủ gà nhẹ đến ngủ sâu, khô miệng, chóng mặt và gây kích thích xảy ra khi điều trị bằng clorpheniramin. Clopheniramin maleat 4mg điều trị bệnh dị ứng có thể làm cho bệnh nhân bị đi ngoài khi sử dụng thuốc. Trong trường hợp đó, nên dừng thuốc, đi khám lại để được kê loại thuốc kháng histamin khác. Cho nên chúng ta cần thận trọng hơn nữa trong việc sử dụng các thuốc chữa trị như thuốc cảm cúm buồn ngủ nói riêng.

Khi uống thuốc cảm cúm khiến người bệnh rất dễ ngủ

Lưu ý: Thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, vui lòng liên hệ với Bác sĩ, Dược sĩ hoặc chuyên viên y tế để được tư vấn cụ thể.

Thuốc Kháng Histamin Kháng H1 Có Tác Dụng An Thần Gây Buồn Ngủ

Thuốc kháng histamin kháng H1 có tác dụng an thần gây buồn ngủ LÀ GÌ , CÔNG DỤNG, CÁCH PHỐI HỢP , TƯƠNG TÁC, CHÚ Ý SỬ DỤNG

Thuốc không mang cấu trúc phenothiazin, có những tính chất kháng cholinergic và ức chế hệ thần kinh trung ương Các thuốc trong nhóm ANTAZOLIN dung dịch nhỏ mắt 0,5 mg/1mL Spersalerg dung dịch nhỏ mắt 0,5 mg/1mL CINNARIZIN viên nén 25 mg Devomir viên nén 25mg Stugeron viên nén 25 mg Cinarizin viên nén 25 mg Vinstu viên nén 25 mg Vertizin viên nén 25mg CHLORPHENIRAMIN: viên nén 4 mg; viên bao 4 mg Chlorpheniramin viên nén 4 mg Chlorpheniramin viên bao 4 mg Và các biệt dược phối hợp với paracetamol như Decolgen, Rhumenol v.v… CYPROHEPTADIN HYDROCHLORID viên nén 4 mg Peritol viên nén 4 mg Ciplactin viên nén 4mg Cyprodine viên nén 4 mg

Piriactone viên nén 4 mg DEXCHLORPHENIRAMIN Polaramine viên nén 2mg; 6mg DIMENHYDRINAT: viên nén 50 mg; 100 mg Apo- Dimenhydrinate viên nén 50 mg Dimenhydrinate viên nén 50 mg Vomina viên nén 100 mg DIMETINDEN: viên nén 1 mg; gel bôi 1 mg/1g; nang 4 mg Fenistil viên nén 1 mg Fenistil gel bôi 1 mg/1g Fenistil 24 nang 4 mg Diphenhydramin và dẫn chất: viên nén 90 mg; ống tiêm 10 mg/1mL Nautamine viên nén 90 mg Dimedrol ống tiêm 10 mg/1mL Daiticol thuốc nhỏ mắt 1mg/ml (phối hợp với kẽm sulfat) EMEDASTIN dung dịch nhỏ mắt 0,05% Emadine dung dịch nhỏ mắt 0,05% KETOTIFEN: viên nén 1 mg; siro 1 mg/5mL; siro 0,02% Asthafen viên nén 1 mg Broncast viên nén 1 mg Broncast siro 1 mg/5 mL Ketof siro 0,02% lọ 200 mL Unilen viên nén 1 mg PHENIRAMIN Trimeton viên nén 75 mg PIZOTIFEN Sandomigran viên nén 0,5 mg PROMETHAZIN: kem bôi da 2%; siro 0,1% Phenergan: kem bôi da 2%, siro 0,1% Pipolphen: viên nén 25 mg, ống tiêm 50mg/2ml Promethazin kem bôi da 2% Promethazin siro 0,1%

Chú ý khi chỉ định thuốc Cân nhắc nguy cơ/lợi ích: mức độ 3 Rượu: Tuyệt đối không nên uống rượu và các chế phẩm có rượu trong khi điều trị, vì làm tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương. Tăng nhãn áp: ở mắt, những thuốc này có thể ức chế sự kích thích tiết acetylcholin gây ra giãn đồng tử (giãn đồng tử thụ động) và liệt điều tiết, kèm theo tăng nhãn áp, có thể dẫn đến tăng nhãn áp cấp tính ở đối tượng có cơ địa góc mống mắt – giác mạc hẹp. Thời kỳ mang thai: Mặc dầu mang thai không phải là một chống chỉ định, cần thận trọng, tránh uống loại thuốc này trong 3 tháng đầu của thai kỳ. Phì đại tuyến tiền liệt; u tuyến tiền liệt: Nguy cơ bí đái do giảm trương lực co bóp niệu đạo và ức chế một phần co bóp bàng quang. Suy gan: Phải lưu ý những tác dụng không mong muốn của một số thuốc kháng histamin. Suy thận: Người suy thận có thể nhạy cảm hơn với những tác dụng không mong muốn kiểu kháng cholinergic của các thuốc này. Thận trọng: mức độ 2 Các trường hợp khác: Chú ý trường hợp hẹp môn vị. Cần theo dõi: mức độ 1 Thời kỳ cho con bú : Thuốc kháng histamin có thể làm giảm tiết sữa và qua được sữa mẹ với số lượng thấp. Trẻ em: Trẻ em có thể nhạy cảm hơn với các tác dụng an thần và kháng cholinergic của các thuốc này. Người bệnh cao tuổi: Người bệnh cao tuổi có thể nhạy cảm hơn với tác dụng không mong muốn kiểu kháng cholinergic của các thuốc này. Tương tác thuốc Cân nhắc nguy cơ/lợi ích: Mức độ 3 Rượu Phân tích: Tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, dẫn đến tăng tác dụng an thần buồn ngủ. Một số thuốc có thể có tác dụng tâm thần-vận động, nhất là trong tuần đầu điều trị. Tương tác kiểu dược lực. Xử lý: Không uống rượu hoặc chế phẩm có rượu khi dùng thuốc này. Nguy cơ an thần buồn ngủ đặc biệt nguy hiểm cho người lái xe hoặc vận hành máy. Tương tác cần thận trọng: mức độ 2 Amantadin hoặc thuốc tương tự Phân tích: Amantadin có thể làm xuất hiện các tác dụng gây lú lẫn và ảo giác của các thuốc kháng cholinergic. Ketotifen và oxadomid hình như không có tác dụng kháng cholinergic.

Xử lý: Khi xảy ra các tác dụng không mong muốn nghi do tương tác, phải điều chỉnh liều các thuốc kháng cholinergic khi dùng amantadin đồng thời. Cho người bệnh biết các tác dụng không mong muốn có thể xảy ra để điều chỉnh liều thích hợp. Amineptin Phân tích: Tăng ức chế thần kinh trung ương, ức chế hô hấp và hạ huyết áp. Hơn nữa, nếu bắt đầu bị phụ thuộc thuốc, sự phối hợp hai thuốc có thể làm tăng nhanh nguy cơ phụ thuộc thuốc. Xử lý: Điều chỉnh liều của hai thuốc, nếu cần phải phối hợp. Chú ý đến giảm tỉnh táo khi lái xe hoặc vận hành máy. Buspiron; procarbazin Phân tích: Tăng ức chế hệ thần kinh trung ương, dẫn đến tăng an thần buồn ngủ. Tương tác kiểu dược lực. Xử lý: Chú ý đến sự giảm tỉnh táo khi lái xe hoặc vận hành máy. Clozapin; quinidin hoặc dẫn xuất Phân tích: Tăng tính kháng cholinergic do hiệp đồng các tác dụng không mong muốn, như tăng các nguy cơ bí đái, khô miệng và táo bón. Xử lý: Cần lưu ý những bất lợi của loại thuốc này. Nếu cần phối hợp, báo cho người bệnh về những bất lợi này. Tránh dùng cho người bị bệnh tuyến tiền liệt hoặc bị tăng nhãn áp. Estrogen hoặc thuốc ngừa thai estrogen- progestogen Phân tích: Nguy cơ tiết nhiều sữa bất thường (chỉ thấy với flunarizin). Xử lý: Giám sát lâm sàng. Thông báo cho người bệnh. Histamin hoặc dẫn chất Phân tích: Phối hợp này bình thường không hợp lý; có thể được dùng trong trường hợp quá liều thuốc kháng histamin. Xử lý: Nếu một trong hai thuốc không được sử dụng như thuốc giải độc cho thuốc kia, thì kê hai thuốc này là không hợp lý vì có đối kháng dược lý. Medifoxamin Phân tích: Tăng các tính chất kháng cholinergic (nhất là với các k háng H1 loại phenothiazin) do hiệp đồng các tác dụng không mong muốn, như tăng nguy cơ bí đái, khô miệng và táo bón. Chú ý là ketotifen và oxatomid hình như không có tác dụng kháng cholinergic. Vậy tương tác này không xảy ra với các thuốc đó. Xử lý: Cần lưu ý những bất lợi của loại thuốc này. Nếu cần phối hợp, phải cho người bệnh biết những bất lợi đó. Tránh dùng cho người phì đại tuyến tiền liệt hoặc tăng nhãn áp. Nguy cơ tuỳ thuộc dạng bào chế sử dụng (dùng tại chỗ); thận trọng khi dùng thuốc nhỏ mắt. Thuốc cholinergic Phân tích: Tính chất kháng cholinergic của các thuốc kháng histamin có thể đối kháng tác dụng cholinergic muốn có. Chú ý ketotifen và oxadomid có ít hoặc không có tác dụng kháng cholinergic. Xử lý: Lưu ý nguy cơ thất bại hoặc giảm hiệu quả điều trị nếu mục tiêu điều trị chính cần phải kê đơn thuốc cholinergic. Hỏi người bệnh khi đến lĩnh thuốc theo đơn lần sau về hiệu quả điều trị. Tác dụng kháng cholinergic có thể yếu hoặc vừa (dạng dùng tại chỗ: thuốc nhỏ mắt). Tương tác cần theo dõi: mức độ 1 Amphetamin hoặc dẫn chất

Phân tích: Tác dụng đối kháng. Có thể tăng tính hung hãn ở người nghiện amphetamin. Xử lý: Lưu ý tương tác dược lực này để xác định mục tiêu điều trị chính. Khuyên người bệnh gặp lại bác sĩ nếu thấy kết quả điều trị không ổn định. Baclofen; carbamazepin; chất chủ vận của morphin; metyldopa; oxaflozan; primidon hoặc dẫn xuất; reserpin; viloxazin Phân tích: Tăng ức chế hệ thần kinh trung ương, dẫn đến tăng gây buồn ngủ. Tương tác kiểu dược lực học. Xử lý: Điều chỉnh liều của hai thuốc, nếu phải phối hợp. Chú ý đến giảm tỉnh táo ở khi lái xe và vận hành máy. Barbituric; benzamid; benzodiazepin; butyrophenon; carbamat hoặc thuốc tương tự; citalopram; dextropropoxyphen; ethosuximid; fluoxetin; fluvoxamin; interferon alpha tái tổ hợp; mianserin; paroxetin; phenytoin; thuốc an thần kinh các loại (nhóm thioxanthen); thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương các loại Phân tích: Tăng ức chế hệ thần kinh trung ương, dẫn đến tăng tác dụng gây buồn ngủ. Tương tác kiểu dược lực học. Xử lý: Chú ý tới giảm tỉnh táo khi lái xe hoặc vận hành máy. Citalopram Phân tích: Tăng tác dụng an thần của chất ức chế tái thu nhận serotonin. Xử lý: Chú ý việc uống rượu đồng thời khiến lái xe và vận hành máy trở nên nguy hiểm. Clonidin hoặc thuốc tương tự Phân tích: Tăng ức chế hệ thần kinh trung ương, dẫn đến tăng tác dụng buồn ngủ. Tương tác kiểu dược lực. Với liều thông thường, rilmenidin không làm tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương của các thuốc này. Xử lý: Phải điều chỉnh liều lượng của hai thuốc, nếu cần phối hợp thuốc. Chú ý đến giảm tỉnh táo khi lái xe hoặc vận hành máy. Disopyramid Phân tích: Tăng tính kháng cholinergic của phần lớn các kháng H1 (trong đó một số thuộc nhóm phenothiazin) biểu hiện khô miệng, bí tiểu tiện và táo bón. Ketotifen và oxadomid hình như không có tác dụng kháng cholinergic. Cần theo dõi. Xử lý: Cần lưu ý những bất lợi của loại thuốc này. Nếu phải phối hợp, thông báo cho người bệnh về những bất lợi này. Tránh dùng cho người bệnh tuyến tiền liệt hoặc tăng nhãn áp. Nguy cơ tuỳ thuộc cả dạng bào chế (dạng dùng ngoài). Thận trọng khi dùng thuốc nhỏ mắt. Gluthetimid và thuốc tương tự (114) Phân tích: Gluthetimid có tính kháng cholinergic và an thần. Phối hợp thuốc dẫn đến tăng các tác dụng kháng cholinergic và an thần, làm ức chế hệ thần kinh trung ương và tăng nguy cơ bí đái, khô miệng và táo bón. Xử lý: Cần lưu ý những bất lợi của loại thuốc này. Nếu cần phối hợp, phải thông báo cho người bệnh về những bất lợi này. Tránh dùng cho người bệnh tuyến tiền liệt hoặc tăng nhãn áp. Thận trọng với người vận hành máy hoặc lái xe (tăng tác dụng an thần gây buồn ngủ). Nguy cơ còn tuỳ thuộc dạng bào chế (dùng tại chỗ); thận trọng với thuốc nhỏ mắt.

Methadon Phân tích: Tăng ức chế hệ thần kinh trung ương kèm theo an thần mạnh có hại, đặc biệt ở người lái xe hoặc vận hành máy. Xử lý: Phải lưu ý đến tăng tác dụng an thần. Khuyên người bệnh không lái xe, không vận hành máy. Phenothiazin Phân tích: Tương tác kiểu dược lý. Tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, dẫn đến tăng tác dụng an thần gây buồn ngủ. Nhiều thuốc kháng histamin an thần có cấu trúc phenothiazin. Xử lý: Điều chỉnh liều hai thuốc, nếu cần phối hợp. Chú ý đến giảm tỉnh táo khi lái xe hoặc vận hành máy. Thuốc gây mê barbituric Phân tích: Nguy cơ tăng ức chế hệ thần kinh trung ương. Xử lý: Nếu phải phối hợp hai thuốc, cần lưu ý nguy cơ này khi gây mê và khi chọn liều. Thuốc kháng cholinergic; thuốc chống trầm cảm ba vòng và thuốc tương tự Phân tích: Tăng tính kháng cholinergic do hiệp đồng các tác dụng không mong muốn, như nguy cơ bí tiểu tiện, khô miệng và táo bón. Xử lý: Cần lưu ý những bất lợi của loại thuốc này. Nếu vì mục tiêu điều trị phải phối hợp thì thông báo cho người bệnh về những bất lợi này. Tránh dùng cho người bệnh tuyến tiền liệt và tăng nhãn áp. Thuốc ức chế monoamino oxydase không chọn lọc Phân tích: Dùng đồng thời các thuốc ức chế MAO có thể kéo dài tác dụng kháng cholinergic và ức chế hệ thần kinh trung ương. Xử lý: Không nên phối hợp thuốc. Nếu có thể, nên thay đổi thuốc.

Coi Chừng Thuốc Gây Mệt Mỏi, Buồn Ngủ

Cũng cần lưu ý, các thuốc có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương cũng có thể gây TDP buồn ngủ kèm mệt mỏi. Đó là các thuốc: thuốc an thần gây ngủ benzodiazepin (diazepam, lorazepam, triazolam…), thuốc chống trầm cảm ba vòng (amitriptyline, nortriptyline, clomipramine…), thuốc trị tăng huyết áp (như thuốc chẹn beta: atenolol, metoprolol, nadolol…), thuốc giảm đau opioid (codein, tramadol…), thuốc chống động kinh (phenytoin, valproat, carbamazepin…).

Có nhiều thuốc gây mệt mỏi chủ yếu. Đó là một số thuốc chống ung thư (như cyclophosphamid, cisplatin, bleomycin…). Bởi vì đây là những thuốc gây độc tế bào, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất trong cơ thể. Ngoài tiêu diệt các tế bào ung thư, các thuốc này còn gây ra những tác hại đến các tế bào lành tính và gây ra tình trạng mệt mỏi cho người bệnh.

Như vậy ta thấy nhiều thuốc có thể gây mệt mỏi, đặc biệt là gây buồn ngủ. Dùng thuốc mà bị mệt mỏi, buồn ngủ có khi rất nguy hiểm. Bất cứ ai khi đang lái xe đều cần biết rằng, buồn ngủ khi lái xe là trạng thái vô cùng nguy hiểm, vì rất nhiều vụ tai nạn nghiêm trọng xảy ra khi tài xế mất kiểm soát trong tích tắc. Và một trong những nguyên nhân, đó là sử dụng thuốc gây buồn ngủ khi đang lái xe. Đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông hết sức thương tâm chỉ vì tài xế ngủ gật hoặc quá mệt mỏi.

Người dùng thuốc nên ghi nhớ, trong các trường hợp bình thường, tác dụng phụ gây buồn ngủ mệt mỏi của thuốc không gây hậu quả gì nghiêm trọng (nếu dùng thuốc trước khi đi ngủ chẳng hạn). Tuy nhiên, trong các trường hợp đặc biệt như làm việc đòi hỏi sự tập trung là lái xe, vận hành máy móc, xây dựng ở lầu cao thì người dùng thuốc bị mệt mỏi buồn ngủ có khi mắc sai lầm nghiêm trọng trong công việc, gây tai nạn giao thông, tai nạn lao động, có thể tử vong hay gây hại cho người khác. Riêng tài xế đang lái xe khách do mệt mỏi buồn ngủ “ngủ gục trên tay lái” – đó là lúc “hung thần” nhập vào tài xế rồi và xe có thể tức khắc gây tai nạn thảm khốc cho nhiều người.

Thông báo cho bác sĩ khám bệnh hay dược sĩ phân phối thuốc biết nghề nghiệp của mình để bác sĩ lựa chọn thuốc điều trị thích hợp tránh gây buồn ngủ mệt mỏi. Bởi vì khi đang làm việc với các ngành nghề mà mệt mỏi buồn ngủ ảnh hưởng sẽ rất nguy hiểm cho bản thân và cho rất nhiều người khác.

Đọc kỹ bản hướng dẫn sử dụng kèm theo thuốc trước khi dùng thuốc. Đặc biệt, đọc nội dung của: Tác dụng phụ, Những thận trọng khi dùng thuốc, Chống chỉ định (tức những trường hợp không được dùng thuốc). Trong các phần này, thường có nêu tác dụng gây buồn ngủ mệt mỏi của thuốc. Đối với bác sĩ khám chữa bệnh, nhà thuốc nơi cung ứng thuốc, khi chỉ định hay phân phối cho dùng thuốc gây mệt mỏi buồn ngủ, cần cho người bệnh biết về TDP đặc biệt này. Người bệnh rất cần biết rõ nên uống thuốc trong thời gian nào để tác dụng phụ gây buồn ngủ mệt mỏi không ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt để không gây nguy hiểm cho bản thân và người xung quanh.

PGS. TS. DS Nguyễn Hữu Đức Theo Tạp chí Sức Khỏe – chúng tôi

Thận Trọng Với Một Số Loại Thuốc Gây Buồn Ngủ

Những loại thuốc nào có thể gây buồn ngủ?

Ngoài các thuốc có tác dụng chính là gây ngủ còn có một số thuốc tác dụng chính không phải gây ngủ nhưng tác dụng phụ rất dễ gây buồn ngủ, nếu không biết và không chú ý có thể ảnh hưởng đến công việc, thậm chí gây nguy hiểm như một số ngành nghề cần thiết sự tỉnh táo.

Thuốc giảm đau, giảm ho có chứa codein: Đây là loại thuốc có tác dụng chính là gây hưng phấn, giảm đau, giảm ho nhưng nhiều tác dụng phụ như chóng mặt, mất phương hướng, trong đó có hiện tượng buồn ngủ.

Thuốc điều trị chứng loạn thần: Một số thuốc dùng để điều trị bệnh lý này như dogmatin, aminazin… có thể gây ra một số tác dụng phụ như rối loạn vận động (đi lại khó khăn…), đặc biệt là gây ngủ hoặc ngủ gà, ngủ gật.

Cần thận trọng với thuốc gây buồn ngủ khi lái xe.

Thuốc kháng histamin: Là những loại thuốc được sử dụng để điều trị các bệnh dị ứng, thông thường được dùng trong các bệnh viêm mũi, họng, mắt dị ứng, đặc biệt là chứng hắt hơi, chảy nước mũi, ngứa họng hoặc ngứa ngoài da, mề đay… Các biệt dược thường chứa diphenhydramine, chlopheniramin hoặc đơn chất hoặc có kết hợp với thuốc giảm đau, hạ sốt. Trong thực tế, chlorpheniramin có trong nhiều loại thuốc trị cảm cúm với nhiều tên biệt dược khác nhau. Thông thường, khi dùng chlopheniramin có thể làm cho người bệnh cảm thấy không tập trung, phản ứng chậm chạp và đặc biệt gây buồn ngủ, ngủ gà. Thực ra, nhờ tác dụng buồn ngủ và ngủ cho nên khi dùng cho bệnh nhân bị ngứa do dị ứng với nhiều nguyên nhân khác nhau (cơ địa dị ứng, thời tiết, côn trùng đốt, mề đay…) làm cho người bệnh quên đi chứng ngứa vì thuốc có tác dụng gây buồn ngủ và ngủ. Tuy vậy, với người đang làm việc, cần tỉnh táo thì rất bất lợi.

Một số thuốc chống nôn: Thường được dùng chống say tàu xe, rối loạn tiền đình… như stugeron. Thuốc có tác dụng chống buồn nôn, nôn, chóng mặt. Ngoài các tác dụng chính, thuốc này còn có tác dụng gây buồn ngủ.

Một số thuốc điều trị tiêu chảy: Ngoài tác dụng chính làm giảm nhu động ruột nhằm ngăn ngừa tiêu chảy, thuốc còn có tác dụng không mong muốn là táo bón hoặc gây buồn ngủ. Một trong các thuốc điều trị tiêu chảy gây buồn ngủ là loperamie.

Thuốc điều trị hạ huyết áp: Trong các trường hợp huyết áp cao có nhiều nhóm thuốc, trong đó có nhóm ức chế chẹn bêta adrenergic (acebutolol, atenolol, betaxolol…), nhóm ức chế thần kinh trung ương (aldomet) hoặc nhóm ức chế men chuyển (pedix) có tác dụng không mong muốn là gây rối loạn giấc ngủ.

Thuốc giãn cơ: Các thuốc sirdalud, decontractyl… được chỉ định điều trị trong các trường hợp co thắt cơ gây đau; rối loạn cân bằng và chức năng vùng cột sống; sau phẫu thuật, chấn thương tủy sống, thoát vị đĩa đệm, viêm xương khớp; tình trạng co cứng do thần kinh (bệnh xơ cứng rải rác tủy sống mạn tính, thoái hoá cột sống, đột qụy não). Tuy vậy, thuốc có nhiều tác dụng phụ như chóng mặt, khô miệng, hạ huyết áp, nôn, rối loạn tiêu hóa, yếu cơ và gây buồn ngủ.

Hậu quả của tác dụng không mong muốn này là gì?

Trong các trường hợp bình thường, tác dụng phụ gây buồn ngủ của thuốc không gây hậu quả gì nghiêm trọng. Tuy nhiên, trong các trường hợp đặc biệt như đòi hỏi sự tập trung, lái xe, vận hành máy móc thì người dùng thuốc gây buồn ngủ có khi mắc sai lầm nghiêm trọng trong công việc, gây tai nạn giao thông, tai nạn lao động, thậm chí tử vong.

Người bệnh cần chú ý gì khi dùng các loại thuốc này?

Để tránh những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra do tác dụng phụ của thuốc, người bệnh cần tuân thủ:

Dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ: Người bệnh cần dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ để biết rõ cần uống thuốc trong thời gian nào để tác dụng phụ gây buồn ngủ không ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt hay có thể gây nguy hiểm cho bản thân và người xung quanh.

Thông báo cho bác sĩ biết chính xác nghề nghiệp khi cần dùng thuốc: Những người có nghề nghiệp đặc biệt như lái xe (ôtô, tàu hỏa, ca nô, máy xúc, máy kéo ngay cả người đi xe máy, xe đạp), người thường trực cơ quan… khi đi khám bệnh cần cho bác sĩ biết nghề nghiệp của mình để bác sĩ lựa chọn thuốc điều trị thích hợp tránh gây buồn ngủ. Bởi vì, buồn ngủ lúc đang làm việc với các ngành, nghề đó sẽ rất nguy hiểm cho bản thân và cho rất nhiều người khác.

Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng thuốc: Người dùng cần đọc tất cả các thành phần trên nhãn của thuốc trước khi sử dụng và so sánh với các loại thuốc khác đang sử dụng (nếu có) và những cảnh báo, nhất là tác dụng gây buồn ngủ để tránh kết hợp vì sẽ càng làm trầm trọng thêm tình trạng này.

TS. Đặng Bùi Bảo Linh – Theo Sức khỏe & đời sống