Xem Nhiều 2/2023 #️ Tiền Sản Giật Là Gì? Thuốc Điều Trị Tiền Sản Giật Sau Sinh, Mang Thai # Top 5 Trend | Visuantoancuaban.com

Xem Nhiều 2/2023 # Tiền Sản Giật Là Gì? Thuốc Điều Trị Tiền Sản Giật Sau Sinh, Mang Thai # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tiền Sản Giật Là Gì? Thuốc Điều Trị Tiền Sản Giật Sau Sinh, Mang Thai mới nhất trên website Visuantoancuaban.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hội chứng tiền sản giật là gì, bệnh học, có nguy hiểm không? Dấu hiệu, biểu hiện của bệnh tiền sản giật tháng cuối là như thế nào? Nguyên nhân gây tiền sản giật ở bà bầu? Xét nghiệm và phòng ngừa nguy cơ tiền sản giật nặng? Thuốc hạ huyết áp dùng trong tiền sản giật sau sinh, khi mang thai?

Tất cả những câu hỏi này sẽ được đội ngũ y khoa giải đáp chi tiết qua nội dung bài viết sau đây:

Bệnh Tiền Sản Giật Khi Mang Thai, Sau Sinh. Triệu Chứng, Thuốc Điều Trị Hiệu Quả?

Mặc dù cùng một thước đo là chỉ số huyết áp tăng cao trên 140/90 mmHg kèm theo tiền sản giật , nhưng nguyên nhân gây ra bệnh ở mỗi bệnh nhân lại rất khác nhau, thành thử ra việc điều trị và sử dụng thuốc cũng gần như không thể áp dụng rập khuôn cho tất cả.

Thuốc điều trị tiền sản giật tốt nhất chính là thuốc giúp bệnh nhân giảm huyết áp và phòng chống biến chứng tiền sản giật hiệu quả, đồng thời an toàn trong suốt quá trình sử dụng và hướng đến kết quả tích cực nhất: Bệnh tiền sản giật biến mất hoàn toàn, không dai dẳng.

Bệnh Tiền Sản Giật Khi Mang Thai, Sau Sinh Là Gì?

Hội chứng tiền sản giật là một rối loạn xuất hiện ở phụ nữ mang thai, đặc trưng bởi triệu chứng tăng huyết áp và nước tiểu có lẫn protein, phát sinh sau tuần thứ 20 của thai kỳ. Bệnh tiền sản giật xảy ra nhiều nhất khi mang thai tháng cuối hoặc có thể xuất hiện trong khoảng 3 tháng đầu sau khi sinh. Theo thống kê, khoảng 5-10% số lượng bà bầu có nguy cơ bị tiền sản giật, thường gặp ở lần mang thai đầu tiên.

Biểu Hiện, Dấu Hiệu, Triệu Chứng Của Tiền Sản Giật

Tiền sản giật đôi khi hình thành mà không kèm theo bất kỳ triệu chứng đặc trưng nào. Rất nhiều mẹ bầu khi khám thai định kỳ phát hiện bị tiền sản giật mà không hề hay biết.

Đầu tiên, chỉ số huyết áp tăng cao, vượt mức 140/90 mmHg, được ghi nhận trong liên tục 3 ngày, là biểu hiện dễ nhận biết nhất

Phù nề rỗ (sưng bất thường, đặc biệt là tay, chân hoặc mặt, đáng chú ý bằng cách để lại vết lõm khi ấn vào)

Nhức đầu dữ dội

Tăng cân đột ngột

Nhìn mờ hoặc nhạy cảm với ánh sáng

Nồng độ protein tăng cao trong nước tiểu

Đau ở phía trên bên phải của bụng

Chảy máu âm đạo

Tiền Sản Giật Bệnh Học, Cơ Chế Sinh Lý Bệnh

Tiền sản giật được cho là hậu quả từ sự bất thường của nhau thai. Khi mang thai bình thường, nhau thai sẽ cho phép trao đổi nước, khí và các chất hòa tan, bao gồm các chất dinh dưỡng và chất thải, giữa tuần hoàn của mẹ và thai nhi.

Sự phát triển bất thường của nhau thai dẫn đến tưới máu nhau thai kém. Nhau thai của phụ nữ bị tiền sản giật là bất thường và đặc trưng bởi sự xâm lấn trophoblastic kém. Điều này dẫn đến stress oxy hóa, thiếu oxy và giải phóng các yếu tố thúc đẩy rối loạn chức năng nội mô, viêm và các phản ứng gây hại khác, bao gồm co mạch và thiếu máu cục bộ nội tạng.

Trong tiền sản giật, sự biểu hiện bất thường của cụm 19 microRNA nhiễm sắc thể (C19MC) trong các dòng tế bào nhau thai làm giảm sự di cư của trophoblast ngoài luồng. Các microRNA cụ thể trong cụm này có thể gây ra sự xâm lấn động mạch xoắn ốc bất thường bao gồm miR-520h, miR-520b và 520c-3p. Điều này làm suy yếu các tế bào trophoblast ngoại bào xâm lấn vào các động mạch xoắn ốc của mẹ, gây ra sức đề kháng cao và lưu lượng máu thấp và cung cấp chất dinh dưỡng thấp cho thai nhi, từ đó làm tăng nguy cơ xuất hiện tiền sản giật.

Nguyên Nhân Gây Tiền Sản Giật Khi Mang Thai, Sau Sinh

Lưu lượng máu đến tử cung không đủ

Tổn thương lớp niêm mạc mạch máu

Gián đoạn trong điều tiết các hormone duy trì co giãn các mạch máu

Rối loạn chức năng hệ thống miễn dịch

Dinh dưỡng kém

Thiếu hụt magie hoặc canxi

Tiền sử gia đình có người bị tiền sản giật

Mẹ bầu bị huyết áp cao trước khi mang thai, tiểu đường, bệnh về thận

Thừa cân, béo phì, ít vận động

Xét Nghiệm, Chẩn Đoán Bệnh Tiền Sản Giật Nặng, Nhẹ

Bệnh Tiền Sản Giật Có Nguy Hiểm, Ảnh Hưởng Đến Thai Nhi Không?

Tiền sản giật càng nặng thì càng nguy hiểm cho sức khỏe thai nhi. Trong một số trường hợp, để giữ tính mạng cho người mẹ, bác sĩ có thể yêu cầu sinh mổ ngay lập tức.

Thai nhi chậm tăng trưởng

Nhau bong non

Lên cơn co giật, rối loạn thị giác

Buồn nôn, đau đầu dữ dội, đau bụng trên bên phải

Hội chứng HELP: Tan máu, tăng men gan, tiểu cầu thấp

Tổn thương gan, thận, phổi, mắt

Đột quỵ, chấn thương não, xuất huyết, thiếu máu cục bộ

Cách Chữa Trị Tiền Sản Giật Cho Bà Bầu, Phụ Nữ Sau Sinh

Nếu bị tiền sản giật tháng cuối , từ tuần thứ 37 trở đi, bác sĩ có thể yêu cầu người mẹ chuyển dạ, sinh mổ để ngăn ngừa bệnh tiến triển nặng hơn. Còn nếu bị tiền sản giật trước thời gian này, mẹ bầu sẽ được yêu cầu uống thuốc và định kỳ tái khám để theo dõi mức độ tiến triển của bệnh.

💊 Phác Đồ Điều Trị Tiền Sản Giật Của Bộ Y Tế, Bệnh Viện Từ Dũ

Huyết áp tăng cao: Labetαlοl, Nɪfedɪpɪne và Hydrαlαzɪne thường được sử dụng là thuốc chống tăng huyết áp khi bị tiền sản giật nhẹ. Thuốc ức chế men chuyển và thuốc ức chế thụ thể angiotensin bị chống chỉ định vì chúng ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi.

Xuất hiện cơn co giật nặng: Nhập viện cấp cứu. Tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch magie sulfat trong và sau sinh được khuyến cáo trong điều trị tiền sản giật nặng để phòng ngừa sản giật. Hơn nữa, magie sulfate được khuyến cáo để điều trị sản giật hơn các thuốc chống co giật khác.

Sau giai đoạn nguy kịch, mẹ bầu nên sử dụng thuốc tây theo toa trong ít nhất 2 tuần. Tuy nhiên, hãy uống thuốc tây như là một giải pháp tình thế tạm thời và phải thật cẩn thận, đặc biệt khi gần đến giai đoạn chuẩn bị sinh.

Tình huống ca bệnh: Chị Hồng V. là một phụ nữ 36 tuổi, nhập viện khi thai được 33 tuần cộng 5 ngày với tình trạng phù nề đột ngột ở mặt, các chi trên và dưới kèm theo đau đầu dữ dội.

Khi đi khám, huyết áp của cô ấy đã tăng lên 171/107 mmHg. Mạch của cô ấy 81 nhịp một phút (bpm), nhịp thở 15 nhịp thở mỗi phút và nhiệt độ cơ thể là 36,4°C. Mẫu nước tiểu của cô ấy cho thấy protein niệu ở mức +2. Cô ấy không bị rối loạn thị giác và đau vùng thượng vị. Khi sờ nắn bụng, chiều cao cơ tim là 38cm. Thai nằm nghiêng theo chiều dọc và lưng có vẻ nghiêng về bên phải. Theo dõi thai nhi điện tử cho thấy nhịp tim của thai nhi ở mức 135 nhịp / phút, không thấy biểu hiện cơn co thắt. Sau khi xem xét ngắn gọn về tiền sử bệnh của Hồng V., cô ấy bị dị ứng theo mùa cũng như bệnh hen suyễn lâu năm, trong đó cô ấy sử dụng ống hít sαlbʊtαmσl để giảm các triệu chứng của mình. Hồng V. cũng có tiền sử trầm cảm. Theo khai báo, cha cô bị tăng huyết áp cũng như xơ gan và mẹ cô có tiền sử bệnh lý tăng huyết áp, đau thắt ngực và tai biến thoáng qua do thiếu máu cục bộ. Ông bà ngoại của cô đều có tiền sử bệnh tiểu đường tuýp 2. Công việc hiện tại của Hồng V. là chăm sóc khách hàng. Cô ấy chưa bao giờ hút thuốc và không uống rượu kể từ khi biết mình có thai. Cô ấy đã từng bị sảy thai hai lần ở tuần thứ 6-8 và một lần mang thai ngoài tử cung cách đây một năm rưỡi, sảy thai tự nhiên ở tuần thứ 10. Các điều tra ban đầu cho thấy; công thức máu, men gan và creatinine bình thường. Tuy nhiên nồng độ urat (0,37 mmol / l) và tỷ lệ protein:creatinin (44 mg / mmol) đã tăng cao. Cô ấy đang xuất hiện các dấu hiệu của tiền sản giật bao gồm tăng huyết áp, protein niệu, phù và tăng phản xạ. Cô ấy được bác sĩ yêu cầu nhập viện và bắt đầu điều trị với 10mg nɪfedɪpɪne. Cô liên tục được theo dõi huyết áp và theo dõi thai nhi bằng máy chụp tim (CTG). Sáng hôm sau, huyết áp của cô ổn định xuống 128/74 mmHg và cô ấy cho biết cảm thấy tốt hơn. Các bác sĩ đang theo dõi độ giãn nở của cổ tử cung để quyết định có nên sinh sớm hay không. Câu hỏi:📋 Bước 1: Đánh giá sơ bộ về tình trạng bệnh hiện tại của Chị Hồng V.: Dựa trên dữ liệu thông tin của Hồng V. cung cấp, loại thuốc điều trị tiền sản giật nào được đánh giá là hiệu quả và an toàn nên được lựa chọn để sử dụng trong trường hợp này?

Đây là lần mang thai thứ 3 của Chị V. Hiện tại, chị đang bị tăng huyết áp (độ 2) kèm theo các triệu chứng của tiền sản giật, phù nề và đau đầu.

📋 Bước 2: Hướng điều trị đề nghị:

Kết quả xét nghiệm cho thấy bệnh nhân này đã bị tăng acid uric và lẫn protein trong nước tiểu. Chị đang nhập viện cấp cứu để bác sĩ xử lý biến chứng.

Cụ thể:

Đối với trường hợp này, sau khi bệnh nhân xuất viện, cách tốt nhất nên là kết hợp thuốc tây và thảo dược điều trị song song trong thời gian 1-2 tháng.

Huyết áp cao: T huốc hạ huyết áp ưu tiên được sử dụng cho trường hợp mang thai là lαbetσlσl hoặc methγldσpα.

Cách uống: ✔️ Kết quả phản hồi của Chị V. sau 2 tháng điều trị:

Để hạ huyết áp và chống tái phát tiền sản giật, thì việc kết hợp sử dụng thảo dược là một hướng đi cực kỳ phù hợp. Thảo Dược Pelasic là liệu pháp được đề nghị sử dụng trong trường hợp này.

Sau 1 tháng thăm hỏi, Chị V. thông báo các chỉ số huyết áp đã bắt đầu có dấu hiệu hạ. Chỉ số trên đã hạ về mức 130 đến 145, chỉ số dưới đã hạ về mức 85 đến 95.

Trước khi sinh 2 tuần, huyết áp của Chị V. đã tương đối ổn định, không còn tăng đột ngột và thỉnh thoảng mới cảm thấy đau đầu nhẹ. Chị đã giảm uống thuốc tây và thảo dược, chỉ còn 1 lần mỗi ngày. Trước khi sinh 1 tuần, chị V. đã gần như ngưng sử dụng thuốc tây và thảo dược. Chế độ ăn uống và sinh hoạt được thực hiện theo dặn dò của bác sĩ.

Chị V. sinh thường như lần mang thai đầu tiên, em bé nặng 2,9 kg.

Dựa vào ca bệnh của Chị V., Bạn đọc cũng có thể áp dụng tương tự cho trường hợp của mình.

Nếu như bệnh nhẹ, mới chớm nguy cơ bị tiền sản giật, thì chỉ cần uống Thảo dược Pelasic là đủ.

Nếu như đã từng nhập viện cấp cứu, bạn muốn giảm bớt rủi ro tác dụng phụ của thuốc tây, thì nên phân thành 2 giai đoạn: Giai đoạn kết hợp Thảo dược Pelasic song song và Giai đoạn giảm bớt phụ thuộc thuốc tây.

Nếu như ngoài cao huyết áp, bạn còn bị nhiều bệnh khác, bao gồm tiểu đường, mỡ máu cao, trầm cảm, v.v thì việc giảm bớt thuốc tây hạ huyết áp chỉ khả thi khi chỉ số đường huyết, chỉ số BMI và chỉ số độ lọc cầu thận đã trở về ngưỡng an toàn.

Kiểm Soát Huyết Áp Trong Tiền Sản Giật

Tiền sản giật có thể bắt đầu sớm nhất từ tuần thứ 20 của thai kỳ. Ước tính có khoảng 10% phụ nữ bị tiền sản giật.

Các triệu chứng của tiền sản giật là gì?

Nếu bạn có hai lần đo huyết áp 140/90 mm Hg cách nhau bốn giờ và bạn không có tiền sử cao huyết áp mãn tính, bạn có thể bị tiền sản giật. Sự gia tăng huyết áp này có thể xảy ra đột ngột và không có cảnh báo.

khó thở

buồn nôn

đau đầu dữ dội

thở dốc

tăng cân đột ngột

sưng mặt và tay

quá nhiều protein trong nước tiểu, có thể chỉ ra vấn đề về thận

thay đổi thị lực, chẳng hạn như nhạy cảm với ánh sáng, mờ mắt hoặc mất thị lực tạm thời

nôn mửa

Điều quan trọng là bạn cần được chăm sóc y tế ngay lập tức nếu bạn gặp bất kỳ triệu chứng nào.

Làm thế nào để bác sĩ kiểm soát huyết áp của bạn?

Bác sĩ sẽ xem xét bạn đang ở giai đoạn nào trong thai kỳ và sự phát triển của em bé khi quyết định cách kiểm soát huyết áp của bạn. Nếu bạn đang mang thai 37 tuần hoặc hơn nữa, cách điều trị duy nhất là lấy thai.

Nếu con bạn chưa phát triển đủ, bác sĩ có thể kê đơn thuốc để giúp bé phát triển trong khi vẫn giữ huyết áp thấp. Những thuốc có thể sử dụng bao gồm:

thuốc hạ huyết áp

corticosteroids, là loại thuốc được sử dụng để giúp phổi của bé trưởng thành và giảm viêm gan

thuốc giảm co giật, bao gồm magnesium sulfate

Kiểm soát huyết áp tại nhà

Nếu bạn bị tiền sản giật nhẹ (huyết áp khoảng 120/80 và 140/90), bác sĩ có thể cho phép bạn nghỉ ngơi ở nhà. Bạn sẽ muốn theo dõi chặt chẽ các triệu chứng tiền sản giật. Ví dụ về các bước bạn có thể thực hiện nhằm giảm huyết áp và giảm thiểu các tác dụng phụ bao gồm:

giảm lượng muối của bạn

uống nhiều nước suốt cả ngày

tăng lượng protein trong khẩu phần ăn của bạn, nếu chế độ ăn của bạn trước đó thiếu protein

nằm nghiêng bên trái để giảm áp lực cho các mạch máu lớn

Hãy nhớ rằng việc thực hiện các bước này có thể không hiệu quả trong việc làm tình trạng tiền sản giật của bạn trở nên tồi tệ hơn. Bác sĩ có thể khuyên bạn đi khám thường xuyên để kiểm tra sức khỏe của bé.

Biến chứng tiền sản giật là gì?

Biến chứng nghiêm trọng nhất của tiền sản giật là tử vong, cả với mẹ và bé. Các bác sĩ cũng biết rằng những phụ nữ bị tiền sản giật khi mang thai có nguy cơ mắc bệnh tim mạch và thận cao hơn trong tương lai. Phụ nữ bị tiền sản giật cũng có thể bị co giật (gọi là sản giật) hoặc họ có nguy cơ bị hội chứng HELLP. Tình trạng nghiêm trọng này là viết tắt của tán huyết, tăng men gan, và số lượng tiểu cầu thấp. Tình trạng này có thể gây ra rối loạn đông máu, đau dữ dội và có thể đe dọa đến tính mạng.

Điều quan trọng là phải gọi cho bác sĩ ngay lập tức nếu bạn gặp bất kỳ triệu chứng tiền sản giật nào để giúp ngăn ngừa bất kỳ biến chứng.

Tiên lượng cho những người bị tiền sản giật là gì?

Nếu bạn mang thai đủ tháng và sinh em bé, huyết áp của bạn thường sẽ trở lại mức bình thường sau khi sinh. Đôi khi điều này có thể mất đến ba tháng. Trong hầu hết các trường hợp, bác sĩ sẽ làm mọi thứ có thể để giúp bé phát triển đủ một cách an toàn.

Ngăn ngừa tiền sản giật?

Nếu bạn có tiền sử tiền sản giật, điều quan trọng là phải thực hiện các bước để đảm bảo sức khỏe của bạn trước khi mang thai. Điều này có thể bao gồm giảm cân nếu bạn thừa cân, giảm huyết áp và kiểm soát bệnh tiểu đường của bạn, nếu có.

Bác sĩ có thể đề nghị một số bước phòng ngừa nếu bạn bị tiền sản giật hoặc nếu bạn có nguy cơ mắc bệnh này. Ví dụ như:

bổ sung canxi, có thể hữu ích với phụ nữ thiếu canxi

sử dụng aspirin liều thấp (từ 60-81mg)

chăm sóc trước sinh thường xuyên để phát hiện tình trạng tiền sản giật càng sớm càng tốt

Tái khám bác sĩ thường xuyên là rất quan trọng để phát hiện tình trạng tăng huyết áp.

Thuốc Chống Co Giật, Nhuận Tràng Magnesium Sulfate

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): A06AD04; A12CC02; B05XA05; D11AX05; V04CC02.

Brand name:

: Magnesi-BFS , Magnesi sulfate Kabi , Magnesi sulfat Hóa dược, Magnesium sulphate Proamp , Sulfate de magnesium Aguettant

2. Dạng bào chế – Hàm lượng: Dạng thuốc và hàm lượng

Gói bột uống: 5 g, 10 g, 30 g.

Dung dịch tiêm tiêm: 500 mg/5 ml; 1 g/10 ml; 2 g/ 20 ml; 1,5 g/10 ml; 1 g/5 ml; 2 g/10 ml; 4 g/ 20 ml;1 g/2 ml; 5 g/10 ml.

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng: 4.1. Chỉ định:

Dự phòng và điều trị các cơn co giật: Là thuốc chủ yếu để dự phòng và điều trị co giật trong tiền sản giật và sản giật; co giật do biến chứng (bệnh lý ở não, tăng huyết áp) trong viêm cầu thận cấp ở trẻ em sau khi đã dùng các thuốc chống co giật, chống tăng huyết áp khác mà không đỡ.

Dự phòng và điều trị hạ magnesi huyết do nuôi dưỡng hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch, hội chứng kém hấp thu, nghiện rượu, xơ gan, viêm tụy cấp hoặc truyền tĩnh mạch kéo dài bằng các dịch không có magnesi.

Điều trị giảm magnesi huyết cấp đi kèm với dấu hiệu co cứng cơ (tetani) tương tự như trong giảm calci huyết.

Điều trị một số loạn nhịp tim nặng đe dọa tính mạng như xoắn đỉnh (hoặc nghi là xoắn đỉnh), ngay cả khi không thiếu hụt magnesi (xoắn đỉnh do thuốc chống loạn nhịp gây ra).

Điều trị ngộ độc bari để làm mất tác dụng kích thích cơ mạnh.

Đường uống: Táo bón, tay (điều trị ngộ độc), làm thông mật.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dùng đường tiêm:

Magnesi sulfat thường dùng đường tĩnh mạch hoặc tiêm bắp (ít dùng vì thường gây đau). Khi tiêm tĩnh mạch, nồng độ magnesi sulfat thường không lớn hơn 200 mg/ml (20%) và tốc độ tiêm thường không quá 150 mg/phút (ví dụ 1,5 ml dung dịch nồng độ 10% hoặc tương đương), trừ khi người bệnh có cơn co giật do sản giật nặng.

Khi tiêm bắp ở người lớn, thường dùng dung dịch magnesi sulfat nồng độ 250 mg/ml (25%) hoặc 500 mg/ml (50%).

Khi tiêm bắp ở trẻ em, nồng độ thuốc thường không quá 200 mg/ml (20%). Khi tiêm bắp nên tiêm bắp sâu và theo dõi phản ứng tại chỗ tiêm.

Một số chuyên gia cho rằng nếu tiêm nhanh magnesi sulfat có thể gây giãn mạch, dẫn đến hạ huyết áp.

Liều magnesi sulfat phải điều chỉnh một cách thận trọng theo yêu cầu và đáp ứng của từng cá thể và phải ngừng thuốc càng sớm càng tốt khi tác dụng mong muốn xuất hiện.

Dùng đường uống.

Pha thuốc trong cốc nước đầy (ít nhất 240 ml nước hoặc nước chanh, trẻ nhỏ dùng ít nước hơn), uống trước bữa ăn sáng, tác dụng trong 2 – 4 giờ.

Liều dùng:

Có thể tính theo mmol hoặc mEq magnesi, khối lượng (mg) magnesi hoặc khối lượng (mg) magnesi sulfat. 1 g magnesi sulfat (heptahydrat) tương đương khoảng 99 mg magnesi, 4,1 mmol hoặc 8,1 mEq magnesi.

Phòng và kiểm soát các cơn co giật (dùng dung dịch tiêm magnesi sulfat heptahydrrat 20% chứa Mg 2+ khoảng 0,8 mmol/ml):

Dự phòng co giật trong tiền sản giật (chỉ định chưa được cấp phép), đầu tiên, cho tiêm tĩnh mạch trong 5 – 15 phút, 4 g (16 mmol Mg 2+), tiếp theo cho truyền tĩnh mạch, tốc độ 1 g/giờ (4 mmol/giờ Mg 2+) trong 24 giờ; nếu co giật xảy ra, cho thêm một liều tiêm tĩnh mạch, 2 g (8 mmol Mg 2+).

Điều trị cơn co giật và dự phòng cơn co giật tái phát trong sản giật: đầu tiên, cho tiêm tĩnh mạch trong 5 – 15 phút, 4 g (16 mmol Mg 2+), tiếp theo cho truyền tĩnh mạch, 1 g/giờ (4 mmol/giờ Mg 2+) trong 24 giờ sau cơn giật hoặc sau khi đẻ, bất cứ muộn như thế nào; nếu cơn co giật tái phát, tăng tốc độ truyền lên tới 1,5 – 2 g/giờ (6 – 8 mmol/giờ Mg 2+) hoặc cho thêm một liều tiêm tĩnh mạch, 2 g (8 mmol Mg 2+).

Ghi chú: Để tiêm tĩnh mạch, nồng độ magnesi sulfat heptahydrat không được vượt quá 20% (200 mg/ml hoặc 0,8 mmol/ml Mg 2+); pha loãng 1 phần magnesi sulfat heptahydrrat 50% với ít nhất 1,5 phần nước để tiêm.

Nồng độ magnesi trong huyết thanh 6 mg/100 ml được coi là tối ưu để kiểm soát các cơn co giật. Tổng liều của magnesi sulfat không quá 30 – 40 g/ngày. Khi bị suy thận nặng, phải thường xuyên giữ được nồng độ magnesi huyết thanh và liều tối đa của magnesi sulfat là 20 g/48 giờ.

Viêm thận cấp ở trẻ em: Co giật, bệnh não và tăng huyết áp do viêm cầu thận cấp ở trẻ em, tiêm bắp 100 mg/kg (0,8 mEq/kg hoặc 0,2 ml/kg dung dịch 50%), cách mỗi 4 – 6 giờ khi cần thiết.

Một cách khác: Magnesi sulfat tiêm bắp với liều 20 – 40 mg/kg (0,16 – 0,32 mEq/kg hoặc 0,1- 0,2 ml/kg dung dịch 20%) khi cần thiết để kiểm soát cơn co giật. Nếu các triệu chứng nặng, có thể dùng đường tĩnh mạch dung dịch 1 – 3% với liều 100 – 200 mg/kg.

Khi truyền tĩnh mạch, phải truyền chậm và theo dõi chặt chẽ huyết áp. Tổng liều dùng đường tĩnh mạch nên dùng trong vòng một giờ, với nửa liều dùng trong 15 – 20 phút đầu tiên.

Giảm magnesi huyết:

Giảm magnesi huyết cấp hoặc nặng: Magnesi có thể phải dùng đường tiêm Dùng 20 mmol magnesi trong 1 lít dung dịch truyền (glucose 5% hoặc natri clorid 0,9%) truyền tĩnh mạch trong 3 giờ. Một cách khác, 35 – 50 mmol magnesi trong 1 lít dung dịch truyền có thể cho trong 12 – 24 giờ. Tổng liều tối đa 160 mmol có thể cần trong 5 ngày. Đối với người bệnh nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch, có thể cho liều hàng ngày khoảng 12 mmol magnesi để dự phòng tái phát thiếu magnesi. Magnesi sulfat cũng có thể tiêm bắp để điều trị giảm magnesi huyết cấp. Liều khuyến cáo 1 mmol/kg magnesi, cho trong thời gian 4 giờ; tiêm bắp đau. Phải giám sát cấn thận magnesi huyết tương và các nồng độ điện giải khác. Phải giảm liều khi suy thận.

Giảm magnesi huyết nhẹ: Có thể cho uống, liều điều chỉnh tuỳ theo nhu cầu của từng người bệnh. Để dự phòng tái phát giảm magnesi huyết, liều 24 mmol hàng ngày đã được khuyến cáo

Loạn nhịp tim:

Nhịp nhanh thất: Để điều trị loạn nhịp đe dọa tính mạng như nhịp nhanh thất kéo dài và /hoặc xoắn đỉnh, liều magnesi sulfat 1 – 6 g (8,1 – 48,6 mEq) dùng trong vài phút, một số trường hợp sau đó truyền tĩnh mạch với tốc độ khoảng 3 – 20 mg/phút trong 5 – 48 giờ phụ thuộc vào đáp ứng của bệnh nhân và nồng độ magnesi huyết thanh.

Nhịp nhanh nhĩ kịch phát: Liều thường dùng 3 – 4 g (ví dụ 30 – 40 ml dung dịch 10%) dùng đường tĩnh mạch trong 30 giây với sự thận trọng đặc biệt.

Ngộ độc bari: Để làm mất tác dụng kích thích cơ khi ngộ độc bari, liều thường dùng của magnesi sulfat là 1 – 2 g đưa vào bằng đường tĩnh mạch.

Tẩy: 15 – 30 g, uống với nhiều nước.

Liều dùng ở người cao tuổi : Thường cần giảm liều magnesi sulfat vì tổn thương thận. Nếu bị suy thận nặng, liều không được vượt quá 20 g trong thời gian 48 giờ; phải giám sát nồng độ magnesi huyết thanh.

4.3. Chống chỉ định:

Mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Dùng đường tiêm: Tăng magnesi huyết, blốc tim, tổn thương cơ tim, suy thận nặng.

Dùng đường uống: Các bệnh cấp ở đường tiêu hóa, thủ thuật mở thông ruột kết, thủ thuật mở thông hồi tràng, tắc nghẽn ruột, thủng ruột, viêm ruột thừa, đau bụng.

Dùng magnesi sulfat làm thuốc chống cơn co tử cung trong sản khoa có thể gây nguy cơ phù phổi ở mẹ, nguyên nhân cần làm sáng tỏ hơn. Các yếu tố nguy cơ ở mẹ bao gồm quá thừa nước, mang thai nhiều lần, nhiễm khuan tiềm tàng và mắc các bệnh tim mạch. Mặc dù điều trị hỗ trợ bằng corticosteroid đã được gợi ý là góp phần tác động vào nguy cơ phát triển phù phổi, nhưng phần lớn các bằng chứng cho thấy đó không phải là yếu tố nguy cơ quan trọng. Nguy cơ phù phổi ở mẹ khi dùng magnesi sulfat làm thuốc chống cơn co tử cung trong sản khoa có thể giảm bằng cách giới hạn lượng dịch đưa vào cơ thể từ 2,5 – 3 lít/ngày, hạn chế đưa vào natri và duy trì tần số mạch của mẹ dưới 130 nhịp/phút. Thường không gặp phát triển phù phổi trong 24 giờ đầu tiên của quá trình điều trị.

Thận trọng ở người suy thận (tích lũy magnesi có thể dẫn tới ngộ độc), suy gan, nhược cơ hoặc các bệnh về thần kinh – cơ khác, suy nhược, người cao tuổi, phụ nữ mang thai, đang dùng glycosid trợ tim (nguy cơ blốc tim).

Tuân theo các kỹ thuật sử dụng thuốc an toàn và theo dõi cảnh giác thuốc khi dùng trong sản khoa để tránh những sai sót có khả năng gây độc.

Hạ kali huyết hoặc hạ calci huyết có thể xảy ra đồng thời với thiếu hụt magnesi.

Một số nhà lâm sàng cho rằng chỉ dùng magnesi sulfat đường tiêm trong viêm thận cấp ở trẻ em để kiểm soát các cơn co giật khi chắc chắn có hạ magnesi máu và phải kiểm tra nồng độ magnesi huyết thanh bất cứ khi nào dùng thuốc. Magnesi sulfat dùng đường tĩnh mạch chỉ nên dành để kiểm soát ngay lập tức những cơn co giật đe dọa tính mạng.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Cần thận trọng khi sử dụng cho các đối tượng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú: Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: D

Thời kỳ mang thai:

Magnesi qua được nhau thai, lượng thuốc trong thai tương quan với lượng thuốc trong máu mẹ. Khi tiêm bắp magnesi sulfat cho mẹ thường không gây hại cho trẻ sơ sinh, nhưng khi dùng bằng đường truyền tĩnh mạch liên tục (đặc biệt nếu dùng trên 24 giờ trước khi đẻ) có thể thấy dấu hiệu ngộ độc magnesi ở trẻ sơ sinh, bao gồm tăng ức chế hô hấp hoặc thần kinh – cơ. Phải theo dõi nhịp tim thai, tránh dùng magnesi sulfat đường tĩnh mạch trong vòng 2 giờ trước khi sinh.

Điều trị tăng magnesi huyết ở trẻ sơ sinh có thể cần phải hồi sức và hỗ trợ thông khí bằng đặt ống nội khí quản và/hoặc thông khí áp lực dương ngắt quãng, cũng như dùng calci đường tĩnh mạch.

Thời kỳ cho con bú:

Khi tiêm magnesi sulfat, magnesi được phân phối vào sữa mẹ, thận trọng khi dùng thuốc ở phụ nữ cho con bú. Nồng độ magnesi trong sữa chỉ tăng lên trong khoảng 24 giờ sau khi ngừng dùng magnesi sulfat, số lượng magnesi đưa vào đường tiêu hóa của trẻ bú mẹ trong giai đoạn này có lẽ quá ít, không quan trọng trong lâm sàng.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Các tác dụng không mong muốn khi dùng magnesi sulfat đường tiêm thường do nhiễm độc magnesi. Các dấu hiệu tăng magnesi huyết có thể bắt đầu ở nồng độ magnesi huyết thanh 4 mEq/lít, bao gồm các triệu chứng thần kinh (yếu cơ, liệt mềm, mất điều hòa cơ, mất phản xạ gân xương, buồn ngủ, lú lẫn), buồn nôn, nôn, khát, đỏ bừng da, toát mồ hôi, giãn mạch ngoại biên, hạ huyết áp, hạ thân nhiệt, nói khó, nhìn đôi, giảm chức năng tim, nhịp tim chậm, loạn nhịp, suy tuần hoàn, ngừng tim, ức chế hô hấp, giảm thông khí và ức chế thần kinh trung ương, hôn mê. Các triệu chứng này có thể tiếp diễn dẫn tới liệt hô hấp gây tử vong. Đã có báo cáo hạ calci huyết với các dấu hiệu co cứng cơ thứ phát sau khi dùng magnesi sulfat để điều trị sản giật.

Các tác dụng không mong muốn trên chức năng thần kinh – cơ có thể xảy ra ở mức magnesi huyết thấp hơn với những người bị bệnh về thần kinh – cơ như nhược cơ.

Sau khi uống các muối magnesi thường không gặp tăng magnesi huyết, trừ trong trường hợp có suy thận. Uống magnesi sulfat có thể gây kích ứng đường tiêu hóa, đau bụng, tiêu chảy.

Đã có báo cáo trường hợp thụt dung dịch magnesi sulfat để chống co cứng cơ bụng đã bị suy tâm thu và chết, mặc dù đã cố gắng hồi sức. Vì vậy, tránh dùng dung dịch thụt vì nguy cơ hấp thu ở trực tràng không dự đoán được, mức độ hấp thu có thể nhiều, dẫn tới tăng magnesi huyết.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc. 4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Để giảm thấp nhất nguy cơ nhiễm độc magnesi, phải theo dõi nồng độ magnesi huyết thanh. Điều trị tăng magnesi huyết nhẹ thường chỉ cần hạn chế lượng magnesi đưa vào cơ thể. Trường hợp tăng magnesi huyết nặng, có thể cần hỗ trợ thông khí và tuần hoàn. Tiêm tĩnh mạch chậm 10 – 20 ml dung dịch calci gluconat 10% để đảo ngược các tác dụng trên hệ hô hấp và tuần hoàn. Nếu chức năng thận bình thường, đưa vào đủ dịch để đay mạnh thanh thải magnesi ở thận. Sự thanh thải này có thể tăng lên khi dùng furosemid. Dùng dung dịch không có magnesi để tham phân máu giúp loại bỏ được magnesi có hiệu quả, có thể cần thiết ở người suy thận hoặc ở những người mà dùng các phương pháp khác không có hiệu quả.

Có trường hợp đã điều trị thành công cho người bệnh bị tăng magnesi huyết ở mức độ nặng, thường gây tử vong bằng hỗ trợ thông khí, tiêm tĩnh mạch calci clorid và lợi tiểu cưỡng bức bằng truyền manitol.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Tăng tác dụng: Magnesi sulfat có thể làm tăng tác dụng của rượu ethylic, các thuốc chẹn kênh calci, các thuốc ức chế thần kinh trung ương, các thuốc chẹn thần kinh – cơ.

Tác dụng chẹn thần kinh – cơ của magnesi sulfat khi dùng đường tiêm có thể tăng lên khi dùng đồng thời với kháng sinh nhóm aminoglycosid. Tương tự, magnesi sulfat dùng đường tiêm và nifedipin có tác dụng hiệp đồng cộng.

Tác dụng của magnesi sulfat có thể được tăng lên bởi calcitriol, các thuốc chẹn kênh calci.

Giảm tác dụng: Magnesi sulfat có thể làm giảm tác dụng của các dẫn xuất bisphosphonat, eltrombopag, mycophenolat, các chất bổ sung phosphat, các kháng sinh nhóm quinolon, các dẫn xuất tetracyclin, trientin.

Tác dụng của magnesi sulfat có thể bị giảm bởi ketorolac, mefloquin, trientin.

Các muối magnesi dùng đường uống làm giảm hấp thu các tetracyclin và bisphosphonat, phải dùng các thuốc này cách nhau vài giờ.

Thay đổi tác dụng: Muối magnesi phải dùng thận trọng cho người bệnh đang dùng digoxin, vì dẫn truyền trong tim có thể thay đổi nhiều, dẫn đến blốc tim. Khi cần phải dùng calci để điều trị ngộ độc magnesi.

4.9 Quá liều và xử trí:

Triệu chứng: Các triệu chứng của tăng magnesi huyết nặng, ngừng thở, ngừng tim.

Xử trí: Bắt buộc phải thông khí nhân tạo cho đến khi đưa được muối calci vào bằng đường tĩnh mạch.

Hạ calci huyết thứ phát, quan trọng trong lâm sàng, gây co cứng cơ đã xảy ra sau khi dùng liệu pháp magnesi sulfat tiêm để điều trị sản giật.

Người lớn tiêm tĩnh mạch 10 – 20 ml calci gluconat 10%. Trong trường hợp tăng magnesi huyết nghiêm trọng, cần thấm phân màng bụng hoặc thấm phân máu.

Magnesi sulfat tiêm tĩnh mạch đã từng được dùng để ức chế cơn co bóp tử cung ban đầu chuyển dạ sớm, mục đích kéo dài thời kỳ mang thai để giảm tỷ lệ tử vong thai nhi, giảm hội chứng suy hô hấp, nhưng nghiên cứu cho thấy không có kết quả.

Khi dùng đường uống, magnesi làm tăng lượng phân do giữ lại dịch trong lòng ruột, làm căng ruột kết, gây tăng nhu động ruột, do đó được dùng làm thuốc nhuận tràng thấm thấu.

Cơ chế tác dụng:

Magnesi là một cation nội bào chủ yếu, nó làm giảm khả năng bị kích thích của tế bào thần kinh và sự dẫn truyền thẩn kinh cơ, cũng như tham dự vào nhiều phản ứng cần enzym xúc tác khác.

Về phương diện sinh lý, magnesi là một ion dương có nhiều trong nội bào. Magnesi làm giảm tính kích thích của nơrôn và sự dẫn truyền nơrôn cơ. Magnesi tham gia vào nhiều phản ứng men.

[XEM TẠI ĐÂY] 5.2. Dược động học:

Sau khi uống, khoảng 1/3 lượng magnesi được hấp thu ở ruột non, ngay cả các muối magnesi hòa tan thường cũng hấp thu rất chậm qua đường tiêu hóa. Hấp thu magnesi tăng lên khi lượng magnesi đưa vào cơ thể giảm. Khoảng 25 – 30% magnesi gắn với protein huyết tương (albumin).

Khi dùng magnesi đường tĩnh mạch, tác dụng chống co giật bắt đầu ngay lập tức, thời gian tác dụng khoảng 30 phút. Sau khi tiêm bắp, tác dụng bắt đầu trong khoảng 1 giờ, thời gian tác dụng 3 – 4 giờ. Nồng độ magnesi trong huyết thanh có tác dụng chống co giật trong khoảng 2,5 – 7,5 mEq/lít.

Phân bố vào xương 50 – 60%, vào dịch ngoại bào 1 – 2%.

Thuốc thải trừ chủ yếu qua thận, tỷ lệ thay đổi giữa các cá thể nhưng tỷ lệ thuận với nồng độ trong huyết thanh và sự lọc của cầu thận. Phần không hấp thu khi uống được thải trừ theo phân.

Sau khi dùng magnesi sulfat đường tiêm, magnesi qua được nhau thai và một lượng nhỏ vào sữa mẹ. Nồng độ magnesi trong sữa chỉ tăng lên trong khoảng 24 giờ sau khi ngừng magnesi sulfat.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý: Các thông tin về thuốc trên chúng tôi chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên chúng tôi 6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

Nước cất pha tiêm

6.2. Tương kỵ :

Magnesi sulfat tương kỵ với các hydroxyd kiềm (tạo thành magnesi hydroxyd không tan), với các carbonat kiềm (tạo thành carbonat base) và với các salicylat (tạo thành salicylat base). Thuốc phản ứng với các arsenat, phosphat, tartrat tạo nên kết tủa của muối magnesi tương ứng.

Chì, bari, stronti và calci phản ứng với magnesi sulfat làm kết tủa các muối sulfat tương ứng.

6.3. Bảo quản:

Magnesi sulfat tiêm và magnesi sulfat trong glucose 5% bảo quản ở nhiệt độ < 40 oC, thích hợp nhất là trong khoảng 15 – 30 o C, tránh để đông băng.

Magnesi sulfat bị chuyển thành dạng monohydrat khi bị làm nóng tới 150 – 160 o C.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM

Phenobarbital Thuốc Chống Co Giật Và An Thần

Tracuuthuoctay chia sẻ bài viết PHENOBARBITAL thuốc Chống co giật và an thần, gây ngủ là gì? giá thuốc bao nhiêu? chỉ định, cách sử dụng, tác dụng phụ thuốc PHENOBARBITAL. Phenobarbital là thuốc chống co giật thuộc nhóm các barbiturat. Phenobarbital và các barbiturat khác có tác dụng tăng cường và/hoặc bắt chước tác dụng ức chế synap của acid gama aminobutyric (GABA) ở não; điều này cho thấy chúng có những điểm tương đồng với các benzodiazepin.

Tên chung quốc tế: Phenobarbital.

Loại thuốc: Chống co giật và an thần, gây ngủ.

Viên nén 15 mg, 50 mg, 100 mg; dung dịch tiêm 200 mg/1 ml; dung dịch uống 15 mg/5 ml; viên đạn.

Dược lý và cơ chế tác dụng

Phenobarbital là thuốc chống co giật thuộc nhóm các barbiturat. Phenobarbital và các barbiturat khác có tác dụng tăng cường và/hoặc bắt chước tác dụng ức chế synap của acid gama aminobutyric (GABA) ở não; điều này cho thấy chúng có những điểm tương đồng với các benzodiazepin. Tuy nhiên, các barbiturat khác với các benzodiazepin ở tính chọn lọc kém hơn; với các barbiturat, ngoài tác dụng ức chế chọn lọc lên synap, chỉ cần tăng liều nhẹ cũng gây ức chế không chọn lọc. Phenobarbital và các barbiturat khác làm giảm sử dụng oxygen ở não trong lúc gây mê, có lẽ chủ yếu thông qua việc ức chế hoạt động của neuron. Các tác dụng này là cơ sở của việc sử dụng các barbiturat để đề phòng nhồi máu não khi não bị thiếu máu cục bộ và khi tổn thương sọ não.

Các barbiturat ức chế có hồi phục hoạt động của tất cả các mô. Tuy vậy, với cùng một nồng độ trong huyết tương hay với các liều tương đương, không phải tất cả các mô đều bị ảnh hưởng như nhau. Hệ thần kinh trung ương nhạy cảm với các barbiturat hơn rất nhiều; liều thuốc gây ngủ và an thần chỉ có tác dụng không đáng kể lên cơ xương, cơ tim và cơ trơn. Phenobarbital ức chế hệ thần kinh trung ương ở mọi mức độ, từ an thần đến gây mê. Thuốc chỉ ức chế tạm thời các đáp ứng đơn synap ở hệ thần kinh trung ương, nhưng sự hồi phục của synap bị chậm lại và có sự giảm trở kháng sau synap ở một số synap, các đáp ứng đa synap bị ảnh hưởng nhiều hơn; điều này giải thích vì sao tác dụng chống co giật và tác dụng ức chế của thuốc lại kéo dài.

Phenobarbital chủ yếu được dùng để chống co giật, tuy vậy thuốc vẫn còn phần nào được dùng để điều trị hội chứng cai rượu. Tác dụng chống co giật của thuốc tương đối không chọn lọc; thuốc hạn chế cơn động kinh lan tỏa và làm tăng ngưỡng động kinh. Thuốc chủ yếu được chỉ định trong cơn động kinh toàn bộ (cơn lớn), và động kinh cục bộ (cục bộ vận động hoặc cảm giác).

Phenobarbital làm giảm nồng độ bilirubin huyết thanh ở trẻ sơ sinh, ở người bệnh tăng bilirubin huyết không liên hợp, không tan huyết bẩm sinh và ở người bệnh ứ mật trong gan, có thể do cảm ứng glucuronyl transferase, một enzym liên hợp bilirubin.

Thuốc uống được hấp thu chậm ở ống tiêu hóa (80%), thuốc gắn vào protein huyết tương (ở trẻ nhỏ 60%, ở người lớn 50%) và được phân bố khắp các mô, nhất là ở não, do thuốc dễ tan trong mỡ. Thể tích phân bố là 0,5 – 1 lít/kg. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt sau khi uống 8 – 12 giờ ở người lớn, sau 4 giờ ở trẻ em và nồng độ đỉnh trong não đạt sau 10 – 15 giờ. Nửa đời của thuốc trong huyết tương dài (2 – 6 ngày) và thay đổi theo tuổi: Trẻ em từ 1 đến 10 tuổi đào thải phenobarbital nhanh hơn nhiều so với người lớn (40 – 50 giờ ở trẻ em; 84 – 160 giờ ở người lớn) còn ở người bệnh bị suy gan hoặc suy thận thì dài hơn rất nhiều. Phải sau 15 – 21 ngày mới đạt trạng thái cân bằng động của thuốc. Thuốc đặt hậu môn hầu như được hấp thu hoàn toàn ở ruột già.

Nếu tiêm tĩnh mạch, tác dụng của thuốc xuất hiện trong vòng 5 phút và đạt mức tối đa trong vòng 30 phút. Tiêm bắp thịt, tác dụng xuất hiện chậm hơn một chút. Dùng theo đường tiêm, phenobarbital có tác dụng kéo dài từ 4 đến 6 giờ.

Phenobarbital được hydroxyl hóa và liên hợp hóa ở gan. Thuốc đào thải chủ yếu theo nước tiểu dưới dạng các chất chuyển hóa không có hoạt tính (70%) và dạng thuốc nguyên vẹn (30%); một phần nhỏ vào mật và đào thải theo phân. Phenobarbital là chất cảm ứng cytochrom P450 mạnh nên có ảnh hưởng đến chuyển hóa của các thuốc được chuyển hóa ở gan thông qua cytochrom P450.

Ðộng kinh (trừ động kinh cơn nhỏ): Ðộng kinh cơn lớn, động kinh giật cơ, động kinh cục bộ.

Phòng co giật do sốt cao tái phát ở trẻ nhỏ.

Vàng da sơ sinh, và người bệnh mắc chứng tăng bilirubin huyết không liên hợp bẩm sinh, không tan huyết bẩm sinh và ở người bệnh ứ mật mạn tính trong gan.

Người bệnh quá mẫn với phenobarbital.

Người bệnh suy hô hấp nặng, có khó thở hoặc tắc nghẽn.

Người bệnh rối loạn chuyển hóa porphyrin.

Suy gan nặng.

Người bệnh có tiền sử nghiện ma túy, nghiện rượu. Người bệnh suy thận. Người bệnh cao tuổi.

Không được ngừng thuốc đột ngột ở người bệnh mắc động kinh.

Dùng phenobarbital lâu ngày có thể gây lệ thuộc thuốc.

Người mang thai và người cho con bú (xem phần dưới).

Người bệnh bị trầm cảm.

Phenobarbital được bài tiết vào sữa mẹ. Do sự đào thải thuốc ở trẻ bú mẹ chậm hơn, nên thuốc có thể tích tụ đến mức nồng độ thuốc trong máu trẻ có thể cao hơn ở người mẹ và gây an thần cho trẻ. Phải thật thận trọng khi bắt buộc phải dùng phenobarbital cho người cho con bú. Phải dặn các bà mẹ cho con bú mà uống phenobarbital, nhất là với liều cao, chú ý theo dõi con mình xem có bị tác dụng ức chế của thuốc hay không. Cũng nên theo dõi nồng độ phenobarbital ở trẻ để tránh mức gây độc.

Tác dụng không mong muốn (ADR)

Toàn thân: Buồn ngủ.

Máu: Có hồng cầu khổng lồ trong máu ngoại vi.

Thần kinh: Rung giật nhãn cầu, mất điều hòa động tác, lo hãi, bị kích thích, lú lẫn (ở người bệnh cao tuổi).

Da: Nổi mẩn do dị ứng (hay gặp ở người bệnh trẻ tuổi).

Cơ – xương: Còi xương, nhuyễn xương, loạn dưỡng đau cơ (gặp ở trẻ em khoảng 1 năm sau khi điều trị), đau khớp.

Chuyển hóa: Rối loạn chuyển hóa porphyrin.

Da: Hội chứng Lyell (có thể tử vong).

Máu: Thiếu máu hồng cầu khổng lồ do thiếu hụt acid folic.

Hướng dẫn cách xử trí ADR

Phải giảm liều phenobarbital ở người bệnh cao tuổi, người bệnh có tiền sử bệnh gan hay bệnh thận.

Nếu tiêm phenobarbital vào tĩnh mạch thì phải tiêm thật chậm (dưới 60 mg/phút). Tiêm quá nhanh có thể gây ức chế hô hấp. Cần dành đường tiêm tĩnh mạch cho cấp cứu trạng thái động kinh cấp, chỉ nên tiến hành tại bệnh viện và theo dõi thật chặt chẽ.

Khi có bất cứ tác dụng phụ nào phải ngừng dùng phenobarbital ngay.

Do tác dụng cảm ứng của phenobarbital lên cytochrom P450, nồng độ trong huyết tương của vitamin D2 và D3 (và cả calci), ở người bệnh được điều trị chống co giật liều cao, dài ngày, có thể bị giảm thấp. Người

bệnh điều trị bằng phenobarbital phải được bổ sung vitamin D (ở trẻ em 1200 – 2000 đvqt mỗi ngày) và acid folic để phòng bệnh còi xương và nhuyễn xương do dùng thuốc chống co giật.

Phenobarbital có thể uống, tiêm dưới da, tiêm bắp sâu và tiêm tĩnh mạch chậm. Ðường tiêm dưới da gây kích ứng mô tại chỗ, không được khuyến cáo. Tiêm tĩnh mạch được dành cho điều trị cấp cứu các trạng thái co giật cấp, tuy vậy tác dụng của thuốc cũng bị hạn chế trong các trường hợp này (thuốc được lựa chọn trong trạng thái động kinh là diazepam hoặc lorazepam). Khi tiêm tĩnh mạch, người bệnh phải nằm bệnh viện và được theo dõi chặt chẽ. Thuốc phải tiêm chậm vào tĩnh mạch, tốc độ không quá 60 mg/phút.

Ðể tiêm dưới da hoặc tiêm bắp, 120 mg bột natri phenobarbital khan được hòa tan trong 1 ml nước cất pha tiêm vô khuẩn. Ðể tiêm tĩnh mạch, 120 mg bột natri phenobarbital khan cần được hòa tan trong 3 ml nước cất pha tiêm vô khuẩn.

Nếu đã dùng dài ngày, phải giảm liều phenobarbital dần dần để tránh các triệu chứng cai thuốc khi người bệnh đã nghiện. Khi chuyển sang dùng thuốc chống co giật khác, phải giảm liều phenobarbital dần dần trong khoảng 1 tuần, đồng thời bắt đầu dùng thuốc thay thế với liều thấp.

Liều lượng tùy thuộc từng người bệnh. Nồng độ phenobarbital huyết tương 10 microgam/ml gây an thần và nồng độ 40 microgam/ml gây ngủ ở đa số người bệnh. Nồng độ phenobarbital huyết tương lớn hơn 50 microgam/ml có thể gây hôn mê và nồng độ vượt quá 80 microgam/ml có khả năng gây tử vong. Tổng liều dùng hàng ngày không được vượt quá 600 mg.

Ðường uống (tính theo phenobarbital base):

Liều thông thường người lớn:

Chống co giật: 60 – 250 mg mỗi ngày, uống 1 lần hoặc chia thành liều nhỏ.

An thần: Ban ngày 30 – 120 mg, chia làm 2 hoặc 3 lần mỗi ngày.

Gây ngủ: 100 – 320 mg, uống lúc đi ngủ. Không được dùng quá 2 tuần điều trị mất ngủ.

Chống tăng bilirubin huyết: 30 – 60 mg, 3 lần mỗi ngày. Liều thông thường trẻ em:

Chống co giật: 1 – 6 mg/kg/ngày, uống 1 lần hoặc chia nhỏ liều. An thần: Ban ngày 2 mg/kg, 3 lần mỗi ngày.

Trước khi phẫu thuật: 1 – 3 mg/kg.

Chống tăng bilirubin – huyết: Sơ sinh: 5 – 10 mg/kg/ngày, trong vài ngày đầu khi mới sinh.

Trẻ em tới 12 tuổi: 1 – 4 mg/kg, 3 lần mỗi ngày.

Ðường tiêm: (tiêm bắp sâu hoặc tiêm tĩnh mạch). Liều thông thường người lớn:

Chống co giật: 100 – 320 mg, lặp lại nếu cần cho tới tổng liều 600 mg/24 giờ

Trạng thái động kinh: Tiêm tĩnh mạch 10 – 20 mg/kg, lặp lại nếu cần.

An thần: Ban ngày, 30 – 120 mg/ngày, chia làm 2 hoặc 3 lần.

Trước khi phẫu thuật: 130 – 200 mg, 60 đến 90 phút trước khi phẫu thuật.

Gây ngủ: 100 – 325 mg.

Liều thông thường trẻ em:

Chống co giật: Liều ban đầu: 10 – 20 mg/kg, tiêm 1 lần (liều tấn công hoặc liều nạp).

Liều duy trì: 1 – 6 mg/kg/ngày.

Trạng thái động kinh: Tiêm tĩnh mạch chậm (10 – 15 phút) 15 – 20 mg/kg.

An thần: 1 – 3 mg/kg, 60 – 90 phút trước khi phẫu thuật.

Chống tăng bilirubin huyết: 5 – 10 mg/kg/ngày, trong vài ngày đầu sau khi sinh.

Ghi chú: Người bệnh cao tuổi và suy nhược có thể bị kích thích, lú lẫn hoặc trầm cảm với liều thông thường. Ở những người bệnh này có thể phải giảm liều.

Phenobarbital là chất cảm ứng mạnh cytochrom P450 enzym tham gia trong chuyển hóa của rất nhiều thuốc.

Phenobarbital làm giảm nồng độ của felodipin và nimodipin trong huyết tương. Cần xem xét chọn lựa một thuốc chống tăng huyết áp khác hay một thuốc chống động kinh khác.

Phenobarbital có thể làm mất tác dụng của thuốc tránh thai theo đường uống, khi được dùng đồng thời, do làm tăng chuyển hóa ở gan. Cần áp dụng biện pháp tránh thai khác; nên chọn biện pháp cơ học.

Phenobarbital và doxycyclin dùng đồng thời: Nửa đời của doxycyclin ngắn lại, khiến nồng độ doxycyclin trong huyết tương giảm. Cần tăng liều doxycyclin hoặc chia uống ngày hai lần.

Phenobarbital và corticoid dùng toàn thân: Phenobarbital làm giảm tác dụng của các corticoid. Cần chú ý điều này, đặc biệt ở người mắc bệnh Addison và người bệnh được ghép tạng.

Phenobarbital và ciclosporin: Nồng độ trong huyết tương và tác dụng của ciclosporin bị giảm khi có mặt phenobarbital. Cần tăng liều ciclosporin trong khi điều trị bằng phenobarbital và cần giảm liều ciclosporin khi thôi dùng phenobarbital.

Phenobarbital và hydroquinidin và quinidin: Nồng độ trong huyết tương và tác dụng chống loạn nhịp của quinidin bị giảm. Cần theo dõi lâm sàng, điện tim, nồng độ quinidin trong máu. Cần điều chỉnh liều quinidin.

Phenobarbital và levothyroxin: Người bệnh có tiền sử giảm chức năng giáp có nguy cơ bị suy giáp. Phải kiểm tra nồng độ T3 và T4. Phải chỉnh liều levothyroxin trong và sau trị liệu bằng phenobarbital.

Phenobarbital và acid folic: Nồng độ phenobarbital trong huyết tương giảm có thể làm giảm tác dụng của acid folic. Phải điều chỉnh liều phenobarbital khi dùng bổ sung acid folic.

Phenobarbital và theophylin: Nồng độ trong huyết tương và tác dụng của theophylin bị giảm. Cần điều chỉnh liều theophylin trong khi điều trị bằng phenobarbital.

Phenobarbital và các thuốc chống trầm cảm ba vòng: Các thuốc chống trầm cảm loại imipramin có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện các cơn co giật toàn thân. Cần phải tăng liều các thuốc chống động kinh.

Phenobarbital và acid valproic: Nồng độ trong huyết tương và tác dụng an thần của phenobarbital tăng lên. Cần giảm liều phenobarbital khi có dấu hiệu tâm thần bị ức chế.

Phenobarbital và các thuốc chống đông dùng đường uống: Tác dụng của thuốc chống đông bị giảm. Phải thường xuyên kiểm tra prothrombin huyết. Cần điều chỉnh liều thuốc chống đông trong khi điều trị bằng phenobarbital và trong 8 ngày sau khi ngừng dùng phenobarbital.

Phenobarbital và digitoxin: Tác dụng của digitoxin bị giảm.

Phenobarbital và disopyramid: Tác dụng chống loạn nhịp của disopyramid giảm do nồng độ disopyramid trong huyết tương bị giảm. Phải điều chỉnh liều disopyramid.

Phenobarbital và progabid: Nồng độ trong huyết tương của phenobarbital tăng.

Phenobarbital và carbamazepin: Nồng độ trong huyết tương của carbamazepin giảm dần nhưng không làm giảm tác dụng chống động kinh.

Phenobarbital và các thuốc trầm cảm khác, thuốc kháng H1, benzodiazepin, clonidin, dẫn xuất của morphin, các thuốc an thần kinh, thuốc giải lo…: làm tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương.

Phenobarbital và phenytoin: Nồng độ trong huyết tương của phenytoin thay đổi bất thường. Các triệu chứng ngộ độc phenytoin có thể xảy ra khi ngừng dùng phenobarbital. Khi đồng thời dùng phenytoin thì nồng độ phenobarbital trong máu có thể tăng lên đến mức ngộ độc.

Phenobarbital và các thuốc chẹn beta (alprenolol, metoprolol, propranolol): Nồng độ trong huyết tương và tác dụng lâm sàng của các thuốc chẹn beta bị giảm.

Phenobarbital và methotrexat: Ðộc tính về huyết học của methotrexat tăng do dihydrofolat reductase bị ức chế mạnh hơn.

Phenobarbital và rượu: Rượu làm tăng tác dụng an thần của phenobarbital và có thể gây hậu quả nguy hiểm. Phải tránh dùng rượu khi sử dụng thuốc.

Dung dịch natri phenobarbital trong nước nói chung không bền vững. Thuốc trong polyethylen glycol hoặc propylen glycol thì bền vững hơn.

Không được dùng dung dịch để tiêm nếu có tủa.

Tránh để các ống thuốc tiêm tĩnh mạch ra ánh sáng.

Các dung dịch natri phenobarbital không được dùng lẫn với các dung dịch acid vì có thể làm tủa phenobarbital.

Các dung dịch phenobarbital để tiêm không phù hợp về mặt vật lý và/hay hóa học với nhiều thuốc khác.

Liều gây độc của các barbiturat rất dao động. Nói chung, phản ứng nặng xảy ra khi lượng thuốc uống vào nhiều hơn liều thường dùng gây ngủ 10 lần. Tử vong thường xảy ra khi nồng độ phenobarbital trong máu cao hơn 80 microgam /ml.

Khi uống quá liều barbiturat, hệ thần kinh trung ương bị ức chế từ mức ngủ đến hôn mê sâu rồi tử vong; hô hấp bị ức chế có thể đến mức có nhịp thở Cheyne – Stockes, giảm thông khí trung tâm và tím tái; giảm thân nhiệt rồi sốt, mất phản xạ, tim nhanh, huyết áp tụt, thiểu niệu. Ðồng tử thường hơi co nhưng nếu ngộ độc nặng thì lại giãn. Người bệnh bị quá liều nặng thường có hội chứng choáng điển hình: Thở chậm, trụy mạch, ngừng hô hấp, và có thể tử vong. Các biến chứng viêm phổi, phù phổi, suy thận có thể gây tử vong. Các biến chứng khác như suy tim sung huyết, loạn nhịp tim, nhiễm khuẩn đường tiết niệu cũng có thể xảy ra.

Phải điều trị và theo dõi người bệnh tại khoa cấp cứu.

Ðiều trị quá liều chủ yếu là điều trị hỗ trợ, nhất là giúp cho đường thở thông và nếu cần thiết thì hô hấp viện trợ và cho thở oxy.

Cách điều trị được ưa dùng nhất trong cấp cứu ngộ độc phenobarbital là dùng nhiều liều than hoạt, đưa vào dạ dày qua ống thông đường mũi. Than hoạt làm tăng đào thải thuốc và rút ngắn thời gian hôn mê. Không nên rửa dạ dày hoặc hút dạ dày trừ khi chắc chắn là thuốc mới được uống (trong vòng 4 giờ); cần chú ý không để người bệnh hít vào phổi các chất chứa trong dạ dày. Nếu người bệnh có chức năng thận bình thường thì có thể gây lợi niệu và kiềm hóa nước tiểu để làm tăng đào thải phenobarbital qua thận. Nếu người bệnh bị ngộ độc nặng, vô niệu hay bị sốc thì nên thẩm phân phúc mạc hay lọc máu thận nhân tạo.

Thuốc hướng tâm thần.

Nguồn dược thư quốc gia

Tham khảo hình ảnh các dòng thuốc PHENOBARBITAL thuốc Chống co giật và an thần, gây ngủ

Vui lòng đặt câu hỏi về bài viết PHENOBARBITAL thuốc Chống co giật và an thần, gây ngủ chúng tôi sẽ trả lời nhanh chóng.

Nguồn uy tín: Tra Cứu Thuốc Tây không đưa ra các lời khuyên, chẩn đoán hay các phương pháp điều trị y khoa.

Nguồn https://www.webmd.com/drugs/2/drug-8689/phenobarbital-oral/details , cập nhật ngày 23/05/2020.

Nguồn https://www.drugs.com/mtm/phenobarbital.html , cập nhật ngày 23/05/2020.

Nguồn https://en.wikipedia.org/wiki/Phenobarbital , cập nhật ngày 23/05/2020.

Bạn đang xem bài viết Tiền Sản Giật Là Gì? Thuốc Điều Trị Tiền Sản Giật Sau Sinh, Mang Thai trên website Visuantoancuaban.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!